TÌNH HÌNH HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG THÁNG 5 VÀ 5 THÁNG NĂM 2011

1. Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 5/2011 đạt 15,89 tỷ USD giảm 2,9% so với một tháng thực hiện trước đó và tăng tới 29,8% so với tháng 5/2010. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 7,23 tỷ USD, giảm 2,8% so với tháng 4/2011, nhập khẩu đạt 8,65 tỷ USD, giảm 3,1%.  Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng thâm hụt là 1,42 tỷ USD, bằng 19,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thuơng mại của

 Việt Nam 5 tháng đầu năm 2011

Như vậy, tính đến hết tháng 5/2011, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 75,32 tỷ USD, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 34,53 tỷ USD, tăng 32,0% và nhập khẩu đạt 40,79 tỷ USD, tăng 28,0%. Nhập siêu là 6,25 tỷ USD, bằng 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI trong 5 tháng đầu năm 2011 là 33,82 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm 44,9% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước (xuất khẩu đạt 16,11 tỷ USD, tăng 34,4%  và nhập khẩu đạt 17,71 tỷ USD, tăng 33,0% so với 5 tháng đầu năm 2010).

2.   Thị trường xuất khẩu, nhập khẩu

Trong 5 tháng đầu năm 2011, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam ghi nhận sự gia tăng khá cao về kim ngạch trong buôn bán với các thị trường, cụ thể:

            - Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Châu Phi là 1,36 tỷ USD, tăng 53,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó xuất khẩu đạt 989 triệu USD, tăng 51,5%; nhập khẩu là 375 triệu USD , tăng 60,1%).

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Châu Á là 50,33 tỷ USD, tăng 33,5% so với 5 tháng thực hiện đầu năm 2011 (trong đó xuất khẩu đạt 17,50 tỷ USD, tăng 38,5%; nhập khẩu là 32,83 tỷ USD, tăng 31,0%).

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Châu Mỹ là 10,18 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước (trong đó xuất khẩu đạt 7,43 tỷ USD, tăng 25,2%; nhập khẩu là 2,75 tỷ USD, tăng 17,7%).

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Châu Âu là 10,69 tỷ USD, tăng 19,2% so với 5 tháng năm 2010 (trong đó xuất khẩu đạt 7,03 tỷ USD, tăng 29,1%; nhập khẩu là 3,66 tỷ triệu USD, tăng 3,8%).

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Châu Đại Dương là 2,05 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm ngoái (trong đó xuất khẩu đạt 993 triệu USD, giảm 22,5%; trong khi ở chiều ngược lại nhập khẩu đạt 1.059 triệu USD , tăng mạnh 65,9%).

Tính đến hết tháng 5/2011, xuất khẩu có sự phát triển về chiều rộng khi hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thậm chí khá cao như: Băng la đét tăng 390%, Nam Phi tăng 100%, Hàn Quốc tăng 83%, Bỉ tăng 76%, Italia tăng 69%,…Số lượng các thị trường Việt Nam xuất khẩu đạt kim ngạch trên 500 triệu USD là 20 thị trường, trong đó có 11 thị trường thuộc về Châu Á và 7 thị trường thuộc về Châu Âu.

Bên cạnh đó, 5 tháng đầu năm 2011 có 9 thị trường Việt Nam nhập khẩu trên 1 tỷ USD và đều có tốc độ tăng trưởng khá cao, cụ thể: Trung Quốc: hơn 9 tỷ USD, tăng 22,3%; Hàn Quốc: 4,96 tỷ USD, tăng 41,5%; Nhật Bản: 3,85 tỷ USD, tăng gần 16,9%; Đài Loan: 3,68 tỷ USD, tăng 36,2%; Singapore: 2,84 tỷ USD, tăng 63,3%; Thái Lan: 2,48 tỷ USD, tăng 22,8%; Hoa Kỳ: 1,77 tỷ USD, tăng 23,5%; Malaixia: 1,60 tỷ USD, tăng 21,8%; Ấn Độ 1,06 tỷ USD, tăng 32,4 so với cùng kỳ năm 2010.

Hết tháng 5/2011 5 thị trường Việt Nam nhập siêu trên 1 tỷ USD, trong đó nhập siêu với Trung Quốc lên tới hơn 5,34 tỷ USD; tiếp đến là Hàn Quốc: 3,11 tỷ USD; Đài Loan: 3,02 tỷ USD; Xingapore: 1,86 tỷ USD; Thái Lan: 1.84 tỷ USD…

3. Một số mặt hàng xuất khẩu chính

Hàng dệt may: Xuất khẩu nhóm hàng dệt may trong tháng đạt 1,1 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này 5 tháng/2011 lên 4,95 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,55 tỷ USD, tăng 17,7%; sang EU đạt 859 triệu USD, tăng 50%; sang Nhật Bản đạt 581 triệu USD, tăng 45%;…

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các thị trường trong 5 tháng/2011

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Dầu thô: lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng là 546 nghìn tấn, giảm 39,6%, giá bình quân xuất khẩu dầu thô giảm 6,2% nên kim ngạch xuất khẩu trong tháng chỉ đạt 496 triệu USD, giảm 43,4% so với tháng 4/2011. Tính đến hết tháng 5/2011, lượng dầu thô xuất khẩu của nước ta đạt gần 3,38 triệu tấn, giảm 4,7% và kim ngạch đạt 2,93 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm 2010.

Dầu thô của nước ta 5 tháng/2011 chủ yếu được xuất khẩu sang Ôxtrâylia với gần 630 nghìn tấn, giảm 57,8%; sang Hàn Quốc: 582 nghìn tấn, sang Nhật Bản: 575 nghìn tấn, sang Malaysia: 436 nghìn tấn, sang Singapore: 365 nghìn tấn...

Giày dép các loại: kim ngạch xuất khẩu trong tháng đạt 571 triệu USD, tăng 16,3% so với tháng 4. Tính đến hết tháng 5/2011, xuất khẩu nhóm hàng giày dép đạt 2,38 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2010.

Tính đến hết tháng 5/2011nhóm hàn này được xuất chủ yếu sang các  thị trường: EU là 940 triệu USD, tăng 16,6% và chiếm gần 40% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 714 triệu USD, tăng 43%;  sang Nhật Bản đạt gần 87 triệu USD, tăng 15%; sang Trung Quốc đạt 85,3 triệu USD, tăng 55,8%...

            Hàng thủy sản: trong tháng 5/2011 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt hơn 488 triệu USD, tăng 5,4% so với tháng trước. Trong đó, xuất sang EU đạt 116 triệu USD, giảm 0,5%; sang Hoa Kỳ đạt 96 triệu USD, tăng 9,5% và sang Nhật Bản đạt 65,7 triệu USD, bằng mức xuất khẩu của tháng 4.

Tính đến hết tháng 5/2011, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 2,09 tỷ USD, tăng 28,6% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng thủy sản của nước ta trong 5 tháng/2011 là EU với kim ngạch đạt 516 triệu USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2010. Tiếp theo là Hoa Kỳ: 386 triệu USD, tăng 50%, Nhật Bản: 301 triệu USD, tăng 4,2%;…

Cà phê: lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 5/2011 là hơn 98 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu sang thị trường EU là 38,6 nghìn tấn, giảm 44%; sang Hoa Kỳ đạt 9,6 nghìn tấn, giảm 11%;… so với tháng 4/2011.

Hết 5 tháng/2011, lượng xuất khẩu nhóm hàng này của nước ta lên gần 798 nghìn tấn, trị giá là 1,74 tỷ USD, tăng 38,8% về lượng và tăng 118,1% về trị giá so với 5 tháng/2010, tương ứng tăng 943 triệu USD.

Biểu đồ 3: Lượng xuất khẩu cà phê từ tháng 01/2008 đến tháng 5/2011

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của nước ta trong 5 tháng qua là EU: 334 nghìn tấn, tăng 50% và chiếm 41,9% tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; tiếp theo là Hoa Kỳ: 77,7 nghìn tấn, tăng 15,6%; Nhật Bản: gần 23 nghìn tấn, giảm 15%... so với 5 tháng/2010.

Gạo: tháng 5/2011, cả nước xuất khẩu 644 nghìn tấn gạo, giảm 18%, trị giá đạt gần 315 triệu USD, giảm 14,9% so với tháng trước. 5 tháng đầu năm 2011, lượng xuất khẩu nhóm hàng này là 3,37 triệu tấn, tăng 15,3% và trị giá đạt 1,66 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2010.

Xuất khẩu gạo của Việt Nam tập trung sang các thị trường như: Inđônêxia: gần 688 nghìn tấn, tăng gấp 43 lần; Philippin: 461 nghìn tấn, giảm 61,2%; Malaysia: 262 nghìn tấn, tăng 48,5%; Cuba: 260 nghìn tấn, tăng 76%; Bănglađét: 236 nghìn tấn, tăng gấp 45 lần;… so với một năm trước đó.

Cao su: lượng cao su xuất khẩu trong tháng đạt 34,8 nghìn tấn, nâng tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước trong 5 tháng/2011 lên 234 nghìn tấn, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước đưa kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cao su tăng thêm 390 triệu USD, bằng  73,7% mức tăng kim ngạch của mặt hàng này trong 5 tháng/2011. Tính đến hết tháng 5/2011, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này là hơn 1,02 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2010.

Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam với 144 nghìn tấn, tăng 22,5% và chiếm tới 61,5% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là các thị trường: EU: 20,8 nghìn tấn; Malaixia: 15,6 nghìn tấn; Hàn Quốc: 11,7 nghìn tấn; Đài Loan: 9,2 nghìn tấn;…

Than đá: Trong tháng vừa qua, lượng xuất khẩu than đá đạt hơn 2,1 triệu tấn, trị giá đạt 195 triệu USD, giảm 8,3% về lượng và tăng 2,1% về trị giá so với tháng 4. Hết tháng 5, tổng lượng than xuất khẩu của cả nước là 6,77 triệu tấn, giảm 22,3%. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 643 triệu USD, bằng với mức của cùng kỳ năm 2010.

Trong 5 tháng qua, lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang các thị trường đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam với 3,26 triệu tấn, chiếm tới 70,3% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 612 nghìn tấn và Nhật Bản: 513 nghìn tấn.

Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù: kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong tháng đạt 119 triệu USD, giảm nhẹ 1,7% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 5 tháng năm 2011 lên 504 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2010.

Tính đến hết tháng 5/2011, Hoa Kỳ là thị trường dẫn đầu nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam với 180 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2010. Tiếp theo là thị trường Nhật Bản: 57 triệu USD, tăng 64,1%; Bỉ: 38 triệu USD, tăng 29,1%; Đức: 35 triệu USD, tăng 11,6%; Pháp: 31 triệu USD, tăng 31,4 so với cùng kỳ năm 2010.

4. Một số mặt hàng nhập khẩu chính

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này là 1,18 tỷ USD, giảm 2,4% so với tháng trước. Nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2011 lên 5,83 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ 2010 và là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam. Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 2,35 tỷ USD, tăng 31,7% và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 3,48 tỷ USD, tăng 5,9% so với một năm trước đó.

Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam trong 5 tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ: Trung Quốc với 1,97 tỷ USD, chiếm 33,8% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là Nhật Bản: hơn 1 tỷ USD (chiếm 18,3%), Hàn Quốc: 447 triệu USD (chiếm 7,7%), Đức: 302 triệu USD (chiếm 5,2%),…

- Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: trong tháng, nhập khẩu nhóm hàng này hơn 1,2 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 5 tháng/2011 lên 5,23 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm 2010 (cao hơn so với mức tăng 30,8% của xuất khẩu hàng dệt may).

Trong 5 tháng/2011, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ: Trung Quốc với 1,66 tỷ USD, tăng 46,1% so với cùng kỳ năm 2010; Đài Loan: 893 triệu USD, tăng 28,6%; Hàn Quốc: 868 triệu USD, tăng 32,2%; Hoa Kỳ: 401 triệu USD, tăng 189%; Hồng Kông: 262 triệu USD, tăng 27,6%; Nhật Bản: 258 triệu USD, tăng 44,2%;…

- Xăng dầu các loại: trong tháng, lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 989 nghìn tấn, giảm 14,3% so với tháng 4/2011, trị giá nhập khẩu đạt 922 triệu USD, giảm 17,9% so với tháng trước. Hết 5 tháng, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 5,13 triệu tấn, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2010 với trị giá là 4,59 tỷ USD, tăng 63,8%.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 5 tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với 2,38 triệu tấn, tăng 41%; tiếp theo là Đài Loan: 783 nghìn tấn, tăng 59,5%; Hàn Quốc: 526 nghìn tấn, giảm 6,2%;….

Sắt thép các loại: trong tháng, lượng sắt thép nhập khẩu gần 585 nghìn tấn, giảm 15,9%; trị giá nhập khẩu đạt 542 triệu USD, giảm 10,6% so với tháng trước. Hết 5 tháng/2011, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là 2,97 triệu tấn, giảm 13,8%, trị giá đạt 2.509 triệu USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước

Việt Nam nhập khẩu sắt thép trong 5 tháng/2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Nhật Bản với 734 nghìn tấn, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2010; Trung Quốc: 702 nghìn tấn, giảm 16,7%; Hàn Quốc: 629 nghìn tấn, tăng 29,6%; Đài Loan: 287 nghìn tấn, tăng 7,8%;…

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kim ngạch nhập khẩu trong tháng là 471 triệu USD, tăng 4,9% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này 5 tháng/2011 lên 2,23 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2010. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1,69 tỷ USD, tăng 37,3% và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 540 triệu USD, giảm nhẹ 0,8% so với 5 tháng/2010.

Nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc: 728 triệu USD, tăng 19,7% và chiếm 33% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước; Hàn Quốc: 589 triệu USD, tăng 169% và chiếm tỷ trọng 26%; Nhật Bản: 349 triệu USD, giảm 3,8%; Malaixia: 145 triệu USD, tăng 0,2%; Đài Loan: 108 triệu USD, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2010;…

- Chất dẻo nguyên liệu: lượng nhập khẩu trong tháng đạt gần 208 nghìn tấn bằng với lượng nhập khẩu tháng trước và đạt trị giá là 399 triệu USD, giảm 1,6%. Trong 5 tháng đầu năm 2011, tổng lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu của cả nước đạt 1.014 nghìn tấn, kim ngạch đạt 1,90 tỷ USD, tăng 13,0% về lượng và tăng 34,1% về trị giá so với 5 tháng thực hiện đầu năm 2010.

Hết tháng 5 năm 2011, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc với trị giá là 338 triệu, tăng 21,7%; Đài Loan: 322 triệu USD, tăng 40,8%; Ả rập Xêút: 273 triệu USD, tăng 46,0%; Thái Lan: 190 triệu USD, tăng 44,3%; Trung Quốc: 137 triệu USD, tăng gấp gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2010.

- Kim loại thường: lượng nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng là gần 54 nghìn tấn, giảm 5,3% so với tháng trước với trị giá là 233 triệu USD, giảm 2,0% . Hết tháng 5/2011, tổng lượng nhập khẩu nhóm hàng này đạt 262 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2010, đạt 1.086 triệu USD về trị giá, tăng 10%.

Trong 5 tháng đầu năm 2011, Việt Nam nhập khẩu kim loại thường chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc: 50 nghìn tấn, tăng 23,9%; Đài Loan: 32 nghìn tấn, tăng 22,2%; Trung Quốc: 31 nghìn tấn, tăng 25,7%; Ôxtrâylia: 26 nghìn tấn, giảm 12,9%;…

- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng là 210 triệu USD, tăng 38,7% so với tháng 4/2011, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu đến hết tháng 5/2011 lên 975 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2010.

Thị trường cung cấp thức ăn gia súc và nguyên liệu vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2011 chủ yếu là từ Ấn Độ với 331triệu USD, tăng 72,8%; Achentina: 136 triệu USD, giảm 27,9%; Hoa Kỳ: 101 triệu USD, giảm mạnh 60,4% ; Braxil: 94 triệu USD, tăng mạnh gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2010.

Ô tô nguyên chiếc: tháng 5/2011 lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là 5,3 nghìn chiếc, giảm 4,3%, trong đó ô tô dưới 9 chỗ ngồi nhập khẩu 3,56 nghìn chiếc, tăng 1,2%; ô tô tải nhập khẩu 1,47 nghìn chiếc, giảm 13%;…

Hết 5 tháng/2011, cả nước nhập khẩu 26,8 nghìn chiếc, trong đó xe dưới 9 chỗ là hơn 18,2 nghìn chiếc, ô tô tải là 7,2 nghìn chiếc, ô tô loại khác là 1,4 nghìn chiếc,…

Xe ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Hàn Quốc với hơn 11,6 nghìn chiếc, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, lượng xe dưới 9 chỗ ngồi là 8,23 nghìn chiếc, tăng 24,8% và chiếm 71% lượng xe nhập khẩu từ thị trường này. Tiếp theo là thị trường Nhật Bản: 3,2 nghìn chiếc, tăng 78,3%; Trung Quốc: 2,8 nghìn chiếc, tăng 79,8%; Đài Loan: 2,26 nghìn chiếc, tăng 69,6% so với cùng kỳ năm 2010;…

- Lúa mì: trong tháng lượng nhập khẩu nhóm hàng này đạt 330 nghìn tấn, tăng 44,4% so với một tháng thực hiện trước đó, kim ngạch đạt 124 triệu USD, tăng 54,3% nâng tổng lượng nhập khẩu lúa mì 5 tháng năm 2011 lên 1.117 nghìn tấn, tăng 13,3%; trị giá đạt 387 triệu USD, tăng 61,3% so với cùng kỳ năm 2010.

Thị trường cung cấp lúa mì vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2011 chủ yếu là từ Ôxtrâylia với 960 nghìn tấn, tăng 86,2% đạt 325 triệu USD về trị giá, tăng gần 150% chiếm 86% tổng lượng nhập khẩu lúa mì của Việt Nam.

 

                                                                               Số liệu thống kê Hải quan Việt Nam
 


Đ/c: 214 Bùi Viện, P. Phạm Ngũ Lão Quận 1
Tel:  (+84 8) 6685 0823 – (+84 8) 6299 0369
Fax: (+84 8) 6299 0369
Email: info@tranphamgia.com - tranphamgialtd@gmail.com